Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

ÔN LẠI SỬ NHÀ :PHAN THANH GIẢN

Phan Thanh Giản (1796 – 1867) là một công thần nhà Nguyễn, làm quan trải 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức từ 1826 – 1867, ông đã lần lượt kinh qua ít nhất 58 chức vụ lớn nhỏ.
Thuở hàn vi, mới 7 tuổi ông Phan Thanh Giản phải chịu cảnh mồ côi mẹ, rồi cha lại bị tù (oan), cảnh nhà vô cùng nghèo khổ, cơ cực, Ông xin được thay cha vào tù. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan đã cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau dồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày. Ông sống nhờ vào tình thương của bà dì ghẻ và những người hàng xóm tốt bụng. Sau đó ông thi đỗ đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân khoa năm Bính Tuất, 1826 – vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ – được triều đình bổ dụng làm quan.
Hoạn lộ của ông Phan Thanh Giản vô cùng lận đận!, ông đã 7 lần làm cho vua giận tức,
Với tính cương trực và ý thức trách nhiệm trước nước, trước dân, PTG đã dám can ngăn vua dù bị mang hoạ vào thân. Năm 1836, ông đã can ngăn vua Minh Mạng đi tuần du Quảng Nam vì năm đó mất mùa lại đang lúc cày cấy, "hãy xin tạm đình cho dân được chuyên việc đồng ruộng" . Năm 1840, Vương Hữu Quang có tội, đình thần dựa theo ý vua, có người xin xử tội chém, có người xin xử tội lưu, ông dám xin nhà vua chỉ xử giáng 2 cấp lưu
Những năm 1843, 1849, 1852, 1853, 1859, PTG dâng sớ lên vua, nói lên thực trạng của đất nước về kinh tế, xã hội và đề xuất những chính sách nhằm "dựa vào pháp luật mà cai trị", "quan tốt mà dân yên", "chỉnh đốn thói quen của sĩ phu", ""chữa hồi bệnh đau khổ của nhân dân", "nuôi dân chăm cày cấy", "nuôi quân trù phương lược", "binh giỏi lương đủ như nguồn nước chảy mãi không hết"... Đình thần và nhà vua không ai không biết rõ bản chất con người và tính nết của ông (Phan Thanh Giản) từng được vua ban tặng tấm kim khánh với 4 chữ vàng Liêm, Bình, Cần, Cán; và do “liêm trực cẩn thận”, sau vua lại ban thêm cho tấm bi lương ngọc để tỏ lòng tin yêu, sủng ái).
Năm năm cuối đời (1862 - 1867) là giai đoạn gian truân, đầy uẩn khúc của PTG .
Khi nhà vua cử ông làm Chánh sứ sang thương thuyết với hoàng đế nước Pháp và Y Pha Nho xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, trước khi đi, vua Tự Đức ướm hỏi: “Trước kia ngươi bỏ 3 tỉnh Nam Kỳ chắc là đã có cân nhắc, vậy ngươi còn có ý gì nữa chăng?”. Phan Thanh Giản tâu: “Tôi xét kỹ thời thế, không bỏ không được, nay tôi vâng mệnh đi sứ, việc thành hay không đều tùy nước Tây, tôi chỉ biết hết lòng hết sức mà thôi”. Vua chảy nước mắt!

“Chảy nước mắt” lúc ấy, chứng tỏ nhà vua đã mặc nhận “việc thành hay không là do nước Tây”. Vậy mà sau đó khi biết rõ người Pháp tiếp tục đẩy mạnh cuộc xâm lược để bức chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, nhà vua liền khai phục và thăng bổ Phan Thanh Giản làm Hiệp biện Đại học sĩ Hộ bộ Thượng thư sung Kinh lược sứ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1865) để sai phái ông vào Nam đương đầu trước làn tên mũi đạn. Hơn ai hết, ông Phan Thanh Giản biết rất rõ rằng mình chỉ là “con bài hy sinh” không hơn không kém, bèn xin khước từ vua không chấp thuận. Sau đó lại xin hưu trí với lý do “vì tuổi già sức yếu không kham được việc lớn” , vua cũng không cho. Thế là phải vâng mệnh!
Tại thời điểm quân Pháp xua binh hùng tướng mạnh đến áp bức Vĩnh Long, trước tình thế nguy ngập ấy xét thấy không còn con đường nào khác là phải cứu dân, bởi việc phòng bị của triều đình từ muôn đời nay vẫn là chiến thuật, chiến lược và chiến cụ thời trung cổ, thực lực yếu xìu như cọng bún thiu, trong khi phía địch, chúng bất thần ập đến với cả ngàn quân hung hãn, đều súng to, tàu lớn, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn bình địa tức khắc nếu có hành vi kháng cự lại. Vì vậy ông đành phải ra lịnh giao thành để, ít ra trước mắt cũng bảo toàn được xương máu nhân dân.
Và cuối cùng, để tỏ rõ lòng thành và tiết tháo, vào lúc nửa đêm ngày chủ nhật 4-8-1867 (nhằm ngày mồng 5 tháng 7 năm Đinh Mão) trước sự chứng kiến của gia đình, trong căn nhà cỏ của mình ở quê nhà Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), ông đã hướng về phương Bắc lạy (vua) 5 lạy rồi bình tĩnh mượn chén thuốc độc tự kết liễu đời mình (giấm chua pha với thuốc phiện) sau khi đã nhịn ăn 15 ngày mà không chết.
Một thời chính sử miệt thị cụ Phan, ghép vào thành phần phản trắc. “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”. Đến nay những cuộc tranh luận học thuật sôi nổi đã phần nào gỡ mối oan trăm năm, người xưa cũng nhẹ lòng. Bên ngoài không gian khoa học, thấy mọi chuyện như đơn giản hơn nhiều

VĂN THÁNH MIẾU

Lục tỉnh xưa có ba văn miếu, một ở Gia Định, một ở Trấn Biên (Đồng Nai), cái còn lại ở Vĩnh Long. Văn Miếu Gia Định nay đã không còn, chỉ để lại trơ trọi địa danh Văn Thánh ở quận Bình Thạnh. Văn Miếu Trấn Biên thì còn đó mà xây lại mới tinh, không mang chút kỷ niệm nào, lại phối thờ vô duyên vài nhân vật chính trị hiện đại không liên quan, thành ra mất bề cổ kính. Chỉ có Văn Thánh Miếu Vĩnh Long còn đó đúng bài bản, trầm mặc, đơn giản mà trang nghiêm.
 Sau cổng tam quan, ấn tượng nhất trong cảnh quan Văn Thánh Miếu là hai hàng cây dầu thẳng tắp, vươn cao uy nghi. Dưới hàng cây đặt nhiều văn bia qua nhiều thời đại, trong đó có tấm bia cụ Phan tỏ lòng khi khởi sự xây cất công trình. Dưới bóng hàng cây này, nhiều thế hệ văn sĩ vào ra mà lòng nặng sự nước. Không chỉ làm nơi thờ cúng, Văn Thánh Miếu còn là nơi bàn trọng sự của trí thức địa phương.
 Công trình trung tâm là Điện Đại Thành thờ đức Vạn Thế Sư Biểu* Khổng Tử (*bậc thầy muôn đời), kèm theo Tứ phối, Thập triết. Bậc thầy đáng kính của nền học nước nhà - cụ Chu Văn An được thờ trang trọng trên nghi giữa. Hai bên có hai nhà Tả vu, hữu vu thờ thổ thần, tiền hiền hậu hiền địa phương.
 Nằm bên trái Điện Đại Thành về phía tam môn có Tụy Văn Lâu 萃文樓 (căn lầu nơi văn sĩ tụ hợp), sau đổi thành Văn Xương Các 文昌閣 (gác văn chương tốt đẹp). Đây là một công trình duyên dáng mà nhỏ gọn. Sinh thời, cụ Phan có ý xây lầu văn cho giới học các nơi tụ hội sáng tác. Sau vì ly tán, cụ mất, con cái vào bưng biền kháng Pháp, bá hộ Nọn gom góp xây cất công trình, xưa là nơi bàn bạc, nay thờ cụ Phan, cụ Võ Trường Toản và đốc học Nguyễn Thông.
 Trải qua bao nhiêu thăng trầm ly tán, công trình vẫn nguyên vẹn, trở thành nguồn cội cho những kẻ học đất Vĩnh hướng về. Lịch sử đã qua chương và giờ đây, người ta có thể đánh giá khách quan hơn về những người khởi sự xây Văn Thánh Miếu, khởi sự cho sự học quê nhà, đóng góp vào thời cuộc, dẫu thành công dẫu thất bại, dâu bể quá nhiều, nhưng lòng trinh trung đã không còn có thể nghi ngờ.




Thứ Năm, 24 tháng 10, 2019

TIẾT PHỤ NGÂM CỦA TRƯƠNG TỊCH

Trương Tịch tự Văn Xương, người đất Tô Châu, thi gia thời Trung Đường (766-827), đậu Tiến sĩ dưới triều vua Đức Tông. Năm 799, được Hàn Dũ tiến cử làm Quốc tử bác sĩ, cuối cùng lên đến chức Quốc tử tư nghiệp.
Ông đã viết bài Tiết Phụ Ngâm như sau

Quân tri thiếp hữu phu,
Tặng thiếp song minh châu.
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý.
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
Sự phụ thệ nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ,
Hận bất tương phùng vị giá thì.
Cụ Trần Trong Kim dịch nghĩa
Chàng hay thiếp có chồng rồi
Còn đem cho thiếp một đôi ngọc lành.
Cảm lòng quyến luyến không đành
Thiếp đeo vào áo lót mình màu sen
Vườn kia nhà thiếp kề bên,
Lang quân chấp kích trong đền Minh Quang
Biết chàng bụng sáng như gương
Thờ chồng thề quyết đá vàng chẳng sai.
Gạt châu, trả ngọc chàng thôi,
Tiếc không gặp gỡ đương thời còn son
Đây là bài thơ tình hiếm thấy và gần như duy nhất trong kho tàng đồ sộ Đường Thi. Nội dung về tâm trạng rất đời, rất người của những giây phút xao động nhất thời của người phụ nữ đã có chồng, nhưng cuối cùng nàng vẫn giữ được tiết hạnh , ko sa ngã .
Nhưng cũng co y kiên ngược lại , như nhà nho Đỗ Xuân Cát cho rằng  
“Cô gái đã có chồng, gặp đứa xấu vẫn cứ trêu ghẹo, thì dứt khoát cự tuyệt là đúng, có gì nữa mà phải “Vấn vương những cảm mối tình” ? Đến khi vẫn nhận viên ngọc, buộc kín vào vạt áo lụa hồng, rõ là yêu thích hạt minh châu rồi vậy. Trả ngọc thì lại đưa bằng hai hàng nước mắt, thế là tiếc vậy. Hận không gặp nhau khi chưa lấy chồng, thế là hối vậy "
Như vậy cụ Đỗ đánh giá ngôn ngữ và hành động của người đàn bà trong bài thơ không thể cho là người có tiết hạnh được
Còn theo Dung trai tam bút chép rằng: khi Trương Tịch còn làm quan một trấn, nguyên soái Lý Sư Cổ ở trấn Vận hâm mộ tài năng của ông, viết thư mời ông về gíup việc cho mình. Trương Tịch không chịu đi, liền làm bài thơ thác lời người tiết phụ để từ chối.  
Văn chương tự cổ vô bằng cớ, đôi khi ta cũng ko chắc đã hiểu tường tận ý đồ cũng như cảm xúc thật của người xưa . Chỉ biết rằng Sau nhiều thế kỷ, thơ tình hiện đại có lẽ cũng chỉ đến thế là cùng

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

BẤT CHỢT..

Bất chợt nắng , bất chợt mưa
Bất chợt đỏng đảnh gió mùa heo may
Bất chợt một sáng thu gầy
Chim sâu tấu khúc gọi bầy vấn vương .
Bất chợt nhớ , bất chợt thương
Bất chợt bão lũ mảnh vườn xác xơ
Cánh chuồn bên giậu thẩn thờ
Chim sâu hốt hoảng mong chờ thiên di
Bất chợt đến , bất chợt đi
Bất chợt làm cuộc chia ly nghìn trùng
Ngày thôi mong đợi tương phùng
Đêm về có giọt sương dừng trên mi .

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

NHẮN NHỦ

Bậu đừng gửi Nhớ vào đêm,
Vì trăng đã khuất bên thềm từ lâu
Buồn tênh cả Vọng Nguyệt Lầu
Lẻ loi cánh Vạc u sầu gọi nhau

Bậu đừng gửi Nhớ vào đau,
Vì tình xưa đã úa nhàu thiên thu
Độc hành những bước lãng du
Quên đi tiếng hát,lời ru nhạt mờ

Bậu đừng gửi Nhớ vào thơ,

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

SẦM THAM VÀ NỖI SẦU BIÊN TÁI

Sầm Tham là nhà thơ Trung Quốc thời Thịnh Đường. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn học, thì ông là "nhà thơ tiêu biểu và xuất sắc nhất trong các nhà thơ biên tái đời Đường"
Cha của Sầm Tham từng hai lần làm Thứ sử , và đã qua đời lúc Sầm Tham còn nhỏ. Nhà nghèo, ông phải tìm cách tự học. Năm 744 đời Đường Huyền Tông, Sầm Tham thi đỗ Tiến sĩ lúc 29 tuổi, được bổ làm một chức quan nhỏ là Binh tào Tham quân. Năm 749, ông theo tướng Cao Tiên Chi đến An Tây (ra biên ải lần thứ nhất), nhưng chẳng bao lâu lại trở về kinh đô Trường An. Năm 754, ông ra biên ải lần thứ hai, làm Phán quan cho Tiết độ sứ An Tây là Phong Thường Thanh. Thời kỳ này, ông sáng tác rất nhiều thơ về chủ đề biên tái. Sau loạn An Sử (755-763), từ Tửu Tuyền (nay thuộc Cam Túc), Sầm Tham đến Phượng Tường (nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây) là nơi Đường Túc Tông đang ở. Được bạn thân là nhà thơ Đỗ Phủ và Phòng Quân tiến cử, ông được giữ chức Hữu bổ khuyết. Thời Đường Đại Tông, Sầm Than lại ra biên ải (lần thứ ba). Năm 766, ông được bổ làm Thứ sử Gia Châu (nên ông xưng là Sầm Gia Châu), nhưng sau đó bị bãi chức. Lâm cảnh đói nghèo, năm 770, Sầm Tham mất trong quán trọ tại Thành Đô (nay là tỉnh lỵ tỉnh Tứ Xuyên) lúc 55 tuổi
Sầm Tham, nhờ sống ở biên ải tương đối lâu, nên làm được rất nhiều thơ biên tái. Qua sự miêu tả sinh động, ông đã làm cho người đọc hình dung được phong cảnh, phong tục, cuộc sống với nhiều dạng vẻ nơi biên ải, tinh thần chiến đấu và nhớ quê của các tướng sĩ biên phòng.( Wikipedia)
Một trong những bài thơ hay của Sầm Tham viết về nỗi lòng người xa xứ là bài sau

KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN
Vị thuỷ đông như khứ,
Hà thời đáo Ung Châu.
Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,
Ký hướng cố viên lưu.
Dịch nghĩa:
THẤY SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN
Sông Vị chảy về đông
Bao giờ tới châu Ung
Nếu chở thêm được hai dòng lệ
Xin gửi đưa giùm về quê hương  ( Văn nghệ Quảng Trị )
Dịch thơ
Sông Vị hướng chảy về Đông
Biết bao giờ mới ngược  giòng Ung Châu
Gửi giùm đôi giọt lệ sầu
Về nơi cố quốc từ lâu xa rời ( Trăng )
Lời bàn : Đôi khi người đi xa mang nỗi lòng đau đáu nhớ về quê cha đất mẹ , nhưng cũng có trường hợp ko đi xa nhưng vẫn nhớ thắt lòng , đứng giữa SG mà nhớ SG quay quắt, SG ơi….


(hs Végh T Mónika)


CHIỀU MỘT MÌNH QUA PHỐ


Phố  có thể dài hay ngắn , tĩnh lặng hay nhộn nhịp , sầm uất hay vắng vẻ .
Xã hội thay đổi , bộ mặt phố cũng thay đổi nhưng muôn đời hồn phố vẫn vậy , vẫn lưu giữ những dấu chân kỷ niệm in hằn lên từ muôn thưở
Và người ra phố buổi sáng bằng bước chân hy vọng , buổi trưa lặng thầm, uể oải , khác hẳn bước chân trên phố buổi chiều đầy bâng khuâng  , tuyệt vọng và hụt hẫng .
Nhất là khi người đi một mình trên phố buổi chiều với nỗi nhớ âm thầm khó thốt ra , làm sao tìm được người đồng cảm để  em có thể nói rằng giọt nắng yếu ớt sót lại góc phố , hàng cây sao rào rào rũ lá như thảm trải đường..tất cả đều gợi nhớ kỷ niệm buộc phải quên .
Chiều một mình qua phố
âm thầm nhớ nhớ tên em
Có khi nắng khuya chưa lên
mà một loài hoa chợt tím
Nắng khuya chưa lên , lạ ! Khuya thì sao còn có nắng , hay ý Trịnh là đèn đường chưa lên , màn đêm chưa buông xuống  mà hoài niệm thảng thốt kéo về - mà một loài hoa chợt tím . Nếu đúng như vậy thì quả là tài tình cho cách dùng từ ví von của Trinh .
Ngày nào mình còn có nhau
xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau
xin người biết đau.
Có ai ko mong ước bên nhau lâu dài khi đã tìm được tình yêu đích thực của đời mình , ai lại ko buồn khi xa nhau vĩnh viễn , chấp nhận có duyên mà ko phận, chỉ “ xin người biết đau “ cũng như em , đau trong lặng thầm , trong từng bước chân chông chênh vào buổi chiều 1 mình tên phố , đau khi nhận ra con phố ấy “ kO còn nắng mềm ‘ , ko còn hy vọng có 1 giấc mộng trùng lai cho em và người .
Phương xa, người có hiểu ?

TẬP TÀNH TRANH THƠ

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây"
-LýBạch-( tranh của hs Nhất Tự )


Vân tự vô tâm ,thủy tự nhàn - Bạch Cư Dị ( tranh của hs Nhất Tự )

Hình gốc
Đưa ra biển Đông cho rõ mặt anh thư